Trị quốc luôn là nỗi trăn trở hàng đầu của các bậc quân vương, trung thần, nghĩa sỹ sau khi thống nhất đất nước. Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt từng nói: “Ngồi trên lưng ngựa có thể đoạt lấy thiên hạ nhưng không thể ngồi trên lưng ngựa mà an trị thiên hạ được”. 

Nhìn lại dòng lịch sử ngàn năm văn hiến của nhân loại, những minh quân, hiền sỹ đã có rất nhiều phương sách trị quốc, giúp họ dương danh mãi đời sau. Một trong những hiến kế này chính là thường xuyên lấy “Lễ tiết” để ứng xử với dân chúng, lấy quy phạm của Nho gia làm chuẩn tắc để hạn chế hành vi của bản thân.

Lễ được coi là một đức mục mà một người quân tử cần phải có cùng với Nhân, Nghĩa, Trí, Tín…trong tư tưởng Nho gia. Điểm cơ bản của “Lễ” chính là tôn trọng, lễ phép và biết ơn. Dưới đây là một số biểu hiện của “Lễ” mà các nhà chính trị đã kết hợp để thiết lập sự bình ổn cho xã hội cổ đại.

Tôn trọng ý kiến, biết lắng nghe quan điểm của người khác

Cổ nhân không xem mình là người cao quý, học rộng, biết nhiều, có chức có quyền mà coi khinh người khác. Sự tôn trọng và tiếp thu những ý kiến mang tính xây dựng của dân thường hay quan lại dưới quyền là một phẩm hạnh cao đẹp của người xưa. Câu chuyện nhà chính trị Tử Sản (thời Xuân Thu) tôn trọng tập tục hương hiệu (trường làng), kính dân như thầy dưới đây vẫn được người đời lưu truyền đến ngày nay.

Những cải cách mà ông thực hiện đã đụng chạm đến lợi ích của nhiều người, vì vậy họ thường tụ tập, nghị luận trong hương hiệu. Lúc đó, có quan điểm cho rằng cần huỷ bỏ các hương hiệu, Tử Sản nói: “Người ta tụ tập trong hương hiệu bàn quốc gia đại sự có gì là xấu. Họ bàn được điều gì tốt chúng ta hãy làm theo. Họ làm điều gì xấu thì chúng ta cũng theo đó mà sửa đổi, như vậy họ chẳng phải là thầy dạy chúng ta hay sao. Ta nghe nói hãy dùng lòng trung thành, lương thiện để giảm bớt sự oán hận của người khác; chứ chưa hề nghe nói cậy quyền thế ngăn ngừa oán hận. Dùng quyền ngăn ngừa oán hận đương nhiên có thể có hiệu quả ngay trước mắt, nhưng chẳng khác nào xây tường ngăn nước; nước càng chứa đầy càng dễ phá vỡ tường và tổn thất càng lớn. Nếu ta dùng phương pháp khai thông nước thì có thể yên ổn dẫn nước vào biển cả. Đối xử với những lời nghị luận của người ta cũng giống như đối xử với nước; bình thường cứ cho dân có nơi chốn để bàn tán sẽ không tích chứa thành tai hoạ. Vì vậy, không nên huỷ bỏ hương hiệu, hãy coi những lời đàm luận của họ như một loại thuốc để trị bệnh”. Tử sản coi tụ tập, bàn tán tại hương hiệu là một việc có ích, không phải việc xấu cần loại bỏ. Ông lắng nghe ý kiến quần chúng, coi đây là một phương tiện truyền tải rất tốt để vua quan có thể trực tiếp thấu hiểu mơ ước, mong mỏi cũng như niềm lo âu của bá tánh. Ông không coi dân chúng là tầng lớp bị trị, nếu ai chống đối sẽ bị trừ hạ.

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy rằng cổ nhân luôn tiếp thu những đóng góp của nhiều cá nhân khác nhau sẽ bổ khuyết cho những sai lầm, từ đó viên mãn quyết định của mình. Họ đi đến đâu cũng tìm gặp các bậc hiền sỹ, học hỏi về đường lối phát triển sự nghiệp cũng như cách ứng xử thường ngày. Có được sự công tâm, minh bạch là mong mỏi lớn nhất của họ.

Kính trọng, quý tiếc người tài

Người lãnh đạo không vì lợi ích cá nhân mà hạ thấp, tranh đấu hay đố kỵ với người giỏi hơn mình. Họ đề bạt anh minh tuấn kiệt, tiến cử hiền nhân, không phân biệt kẻ hèn người sang, bỏ qua oán thù, hiềm khích. Thừa Tướng Gia Cát Lượng (thời Xuân Thu) vì mến mộ tài năng, khí phách của tướng địch Mạnh Hoạch, ông 7 lần bắt, 7 lần tha Mạnh Hoạch, cuối cùng buộc vị tướng này phải tâm phục, khẩu phục. Ông dựa vào mưu trí của mình, dùng thượng sạch đánh vào lòng người, không ngại bị chê cười yếu nhược. Tần Vương Tần Mục Công lấy 5 tấn da lừa đổi lấy Bách Lý Hề khi đó làm nô lệ cho nước Sở hay câu chuyện Kỳ Hề (nước Tấn thời Xuân Thu) đề bạt kẻ thù làm quan, chức vị cao hơn mình đều là những tích cổ cho người đời sau xưng tụng. Các bậc quân vương, đại tướng, trung thần đó đều là những người có tầm nhìn xa trông rộng, giỏi phân tích lợi hại, được mất, coi “người hiền tài như nguyên khí của quốc gia”. Trong thời gian nhấp chính, cổ nhân luôn ban hành các chính sách chiêu mộ, đãi ngộ người khí tiết. Từ đó khắp cả nước, từ nho sĩ đến anh hùng áo vải ai ai cũng muốn góp sức xây dựng và bảo vệ quốc gia. Đây là một hành động đẹp thể hiện tấm lòng tôn trọng người kiệt xuất của danh nhân thời xưa.

Đối xử ân cần, lễ nghi, chu đáo với các nho sỹ, văn nhân

Những người có tài thơ ca, văn phú, thiện lương có thể họ không làm quan, chỉ là dân thường nhưng lại dành được sự ân cần, quan tâm của các nhà chính trị. Đây là biểu hiện kính trọng người tốt, người có đức của cổ nhân xưa. Hành động đẹp này khiến nhân dân an tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của chế độ đương thời. Chuyện bố con Lưu Giao (em trai Hán Cao Tổ Lưu Bang) lấy chén rượu lễ để nghênh đãi hiền sĩ đã trở thành câu chuyện được ca tụng khắp nơi.

Một lần, Lưu Mậu (con trai Lưu Giao) mở tiệc rượu mời bạn bè và hai vị học giả uyên thâm Thân Công và Mục Sinh. Tuy nhiên, vì bận việc, hai vị này đến chậm nhưng Lưu Mậu lại cố ý kéo dài thời gian bắt đầu để đợi họ. Quan khách đều chắc mẩm hai nhân vật kia hẳn là hoàng thân quốc thích. Nhưng khi Lưu Mậu giới thiệu họ là học giả thì mọi người đều rất ngạc nhiên và cảm phục chủ nhân. Có vị khách không hiểu mà hỏi rằng: “Ngài tại sao lại ưu đãi hai người này như vậy? Có phải họ là những người có ân lớn với ngài không?”. Chủ tiệc cười đáp: “Sao cứ phải có ân với ta nhỉ? Mọi người đều là bạn bè, huống chi khi cha tôi còn sống đã dạy rằng phải luôn luôn tôn trọng người hiền tài. Họ đều là những bậc tiền bối tài cao đức trọng, lẽ nào lại không đáng được nhận sự tôn trọng lễ nghĩa như vậy?”. Từ câu chuyện cảm động đó, hàng loạt các hiền sĩ trong nước nô nức kéo nhau về phục vụ và có cống hiến lớn lao cho sự hưng thịnh của đất nước. Không phân biệt địa vị, giàu sang hay nghèo khổ, người xưa coi trọng đức, lấy lễ tiết để đối xử nhân nghĩa với người tài hoa. Thật là một nghĩa cử cao đẹp!

Vua Đường Thái Tông từng nói: “Dùng gương đồng có thể chỉnh sửa mũ áo, lấy cổ sự làm gương có thể hiểu lịch sử hưng vong, lấy gương người khác có thể hiểu rõ lỗi lầm của mình”. Những tích chuyện về việc dùng lễ tiết để trị an quốc gia của cổ nhân há chẳng phải để lại cho chúng ta muôn vàn bài học đáng suy ngẫm hay sao?

Nguyệt Thư