Những ngôi chùa cổ trong núi sâu còn lưu lại nhiều Thánh tích linh thiêng. Hầu hết những người có tín ngưỡng Thần Phật đều đã có trải nghiệm vào chùa, chiêm bái tượng Phật. Tuy nhiên, những pho tượng Phật được thờ phụng trong chùa, ngoài những bức tượng điêu khắc bằng gỗ, đá hoặc những pho tượng đúc bằng kim loại, còn có một số ít là nhục thân bất hoại của các cao tăng, đại đức – còn được gọi là chân thân, lưu lại sau khi viên tịch...

Điều đặc biệt nhất trên chân thân của các cao tăng là mặc dù chân thân đã qua hàng nghìn năm vẫn bất hủ bất hoại; da, cơ và xương, các cơ quan nội tạng, thậm chí cả tóc và móng tay không khác mấy so với khi họ còn sống. Một số người so sánh nhục thân bất hoại này với một “xác ướp” của Trung Quốc. Tuy nhiên, xác ướp là phải kinh qua rất nhiều lần xử lý, còn nói về những “xác ướp” hình thành ở vùng khí hậu khô và nóng như Ai Cập, thực chất chỉ là sản phẩm tạo tác. Chân thân của các cao tăng là hình thành tự nhiên, không qua quá trình xử lý nhân tạo, hoàn toàn lật đổ nhận thức cố hữu rằng thi thể sẽ phân hủy và biến mất; có thể gọi đây là đại kỳ tích về nhân thể.

Bí ẩn hiện tượng chân thể bất hoại sau ngàn năm của Huệ Năng

Có một số trường hợp nhục thân bất hoại của các cao tăng được may mắn được bảo tồn cho đến ngày nay, khai thị cho thế nhân về sự thần kỳ của Phật Pháp. Nhục thân cổ nhất còn lưu lại, chính là chân thân của Lục tổ Huệ Năng Thiền Tông hiện đang được thờ phụng trong điện nội Lục tổ ở chùa Nam Hoa tại Khúc Giang, Quảng Đông, Trung Quốc. Năm 713 sau Công Nguyên, Thiền sư Huệ Năng viên tịch; hơn 1.300 năm trôi qua, chân thân của ông vẫn giữ tư thế thiền định, nét mặt trang nghiêm, an nhiên, như đang ở trạng thái nhập định trường cửu. Chân thân của ngài Huệ Năng là bảo vật của Phật giáo, đã thu hút vô số tăng nhân và thiện nam tín nữ đến chiêm bái.

Nhục thân của thiền sư Huệ Năng đặt tại chùa Hoa Nam huyện Thiều Quang, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc (ở đây cũng lưu giữ nhục thân của sư Hám Sơn và Đan Điền). (Ảnh: Wiki)

Trong xã hội ngày nay, nhân gian còn lưu truyền rộng rãi những kỳ văn về nhục thân bất hoại của rất nhiều cao tăng. Có thể có người muốn hỏi, liệu nhân thể có thể siêu xuất quy luật tự nhiên và được bảo tồn vĩnh cửu không? Loại thân thể này có phải là Phật thể – thân thể kim cương bất hoại trong truyền thuyết không? Chân thể của Huệ Năng ẩn chứa những bí mật gì?

Huệ Năng đã tu thành thân thể bất hoại

Trong Phật điển “Lục Tổ Bàn Kinh” đã ghi lại sự tích về việc đắc pháp và truyền pháp của Huệ Năng trong suốt cuộc đời ông, trong đó có “Chúc phó phẩm” – kể lại tình hình trước và sau khi viên tịch của ông, trở thành tư liệu trân quý để nghiên cứu về chân thân của Huệ Năng cho hậu thế.

Theo ghi chép của Phật điển, vào ngày 8 tháng 7 năm 713, Huệ Năng đã tập hợp các đệ tử của mình để thông báo về thời điểm viên tịch và giảng cho họ bài giảng cuối cùng: “Các ngươi đến gần đây, ta muốn rời khỏi thế gian vào tháng Tám, các ngươi có câu hỏi gì, hãy hỏi sớm, giúp các ngươi phá nghi giải mê xong để ta an lạc”. Ngày 3 tháng 8, Huệ Năng triệu tập đệ tử một lần nữa sau khi nhịn ăn: “Các ngươi ngồi đả tọa ở đây, hôm nay chúng ta hãy cùng nhau chờ đợi”. Ông nói và yêu cầu các đệ tử đừng buồn và khóc.

Vào canh ba, Huệ Năng nói một câu: “Ta đi đây!” Sau đó, ông an nhiên tọa hóa, nhập tháp kham thu táng, hưởng thọ 76 tuổi. Vào thời điểm đó, căn phòng tràn ngập mùi hương, bên ngoài cầu vồng chìm xuống đất, cây cối biến thành màu trắng, cầm thú cũng than khóc, thiên địa vạn vật dường như đều vì sự ly thế của Huệ Năng mà đau buồn. Vào tháng 11 cùng năm, các nhà sư đã thắp hương cầu nguyện, và được thiền sư chỉ dẫn đưa quan tài đặt chân thân của ông về Tào Khê. Vào ngày 25 tháng 7 năm sau, các đệ tử mở quan tài, và thiền sư Phương Biện đã bôi “hương nê” lên chân thân của Huệ Năng. Trước khi Huệ Năng tọa hóa, ông đã nói rằng mình sẽ gặp kiếp nạn bị đạo chích lấy thủ cấp; các đệ tử đã dùng lá thiết diệp và vải sơn để bảo vệ cổ ông, rồi mới lại chôn cất trong tháp một lần nữa. Một điều thần kỳ lại xảy ra, trong tháp đột nhiên xuất hiện một cột sáng trắng cao vạn trượng, chiếu thẳng lên trời, ba ngày sau mới tan biến.

Chân thân của Huệ Năng chịu nạn trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa

Tuy nhiên, ngày nay chúng ta khi bước vào chùa Nam Hoa để chiêm ngưỡng chân thân của Huệ Năng, có thể cảm thấy ngạc nhiên. Da của ông đã chuyển sang màu nâu, tím đậm. Người dân địa phương cũng có tin đồn, nói rằng trên chân thân của Huệ Năng có thể nhìn thấy một lỗ hổng, có thể thấy bên trong có một cây sắt làm giá đỡ, và được nhồi đầy bùn và rơm; bề mặt của chân thể được sơn nhiều lần tạo thành một lớp vỏ cứng. Chân thể thực sự của Huệ Năng có phải chỉ là một cái vỏ rỗng không? Sự thật cuối cùng là gì?

Chùa Nam Hoa. (Ảnh: Wiki)

Hồi tố lại lịch sử, chúng ta sẽ phát hiện rằng, có những dấu tích của việc tác động trên chân thể, nhưng không phải đồ tạo giả, mà là chân thể của Huệ Năng đã nhiều lần bị phá hoại, hậu nhân sau đó đã bất đắc dĩ phải dùng đến những phương thức bổ cứu như vậy. Kể từ khi Huệ Năng viên tịch, chân thể của ông đã phải trải qua nhiều lần kiếp nạn: một lần bị cắt rời đầu, hai lần bị cắt ngón tay, ba lần bị mổ nội tạng v.v., có thể bảo tồn đến ngày nay thật không dễ dàng. 

Nghiêm trọng nhất tất nhiên là ba lần bị mổ nội tạng. Lần đầu tiên xảy ra vào những năm cuối của triều Nam Tống. Vị danh thần Văn Thiên Tường đã viết bài thơ “Nam Hoa Sơn”, phần phụ lục đề cập đến việc chân thể của Huệ Năng đã bị một đám loạn quân moi tim móc gan. Ông đã cảm thán mà nói: “Dù biết có nghịch cảnh, Phật cũng không thể được miễn, huống chi là người”.

Lần thứ hai là vào thời Tây An triều Thanh, chân thể của Huệ Năng lại chịu nạn và bị mổ bụng. Những loạn binh đang chạy trốn đã chạy đến ngôi chùa và mổ phanh chân thân của Huệ Năng. Chân thân của Huệ Năng đã chịu tổn hủy cực đại, nên mới có hậu nhân tu phục, để lại nhiều dấu vết nhân tạo. Một số học giả đã suy đoán rằng rơm và bùn trám đầy trong chân thể ông rất có thể đến từ việc trùng tu từ triều Thanh. Tuy nhiên, những vết thương mà chân thể của Huệ Năng đã phải chịu đựng trong hàng nghìn năm còn ít hơn thiệt hại do thảm họa của “Cách mạng Văn hóa” sau khi ĐCSTQ soán đoạt chính quyền gây ra, và nó dường như đã bị hủy hoại hoàn toàn.

Nói đến đây, không thể không nhắc đến một người, đó cao tăng Phật Nguyên. Ông là đệ tử của thiền sư Hư Vân, một thiền sư nổi tiếng thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, và từng đảm nhiệm chức trụ trì của nhiều danh tự. Thời kỳ Nhật xâm lược Trung Hoa, Phật Nguyên đã phụng mệnh Hư Vân để bí mật di chuyển chân thể của hòa thượng Huệ Năng, Hàm San và Đan Điền từ chùa Nam Hoa đến một nơi bí mật ở Vân Môn tự.

Tuy nhiên, trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, chân thể của Huệ Năng đã không được miễn nạn. Cuốn “Tân biên Tào khê Thông chí” ghi lại rằng “phái tạo phản” đã tàn bạo lấy cả ba chân thân quý giá đó, mang đi diễu hành trên phố, ‘phê bình đấu tranh’, và thậm chí chuẩn bị thiêu hủy như tra tấn người sống.

Phái tạo phản thậm chí còn đâm thủng ngực và lưng của chân thân Huệ Năng và Đan Điền, để lại một vết thương lớn bằng miệng cái bát. Chúng lấy phủ tạng và xương cốt của họ ra và vứt bỏ trên mặt đất. Hòa thượng Phật Nguyên chứng kiến ​​tất cả thảm trạng, vạn phần đau thương nhưng không dám khóc, chỉ có thể liều mình thu thập linh cốt của hai vị chân thân, đem chôn dưới gốc cây Cửu Long Tuyền khi không còn ai chú ý. Sau đó, ông e rằng vận mệnh của bản thân mình cũng không thể dự liệu được, nên ông đã thỉnh pháp sư Thánh Nhất ở Hồng Kông chụp ảnh và ghi lại, đợi đến khi thái bình sẽ lấy lại linh cốt.

Năm 1979, hòa thượng Phật Nguyên được “bình phản”, mới dám công bố việc thu giữ linh cốt, nhờ đó mà linh cốt của Huệ Năng và Đan Điền lại được nhìn thấy ngày nay. Điều đáng tiếc là linh cốt của Đan Điền đã bị phân hủy không còn gì; còn linh cốt của Huệ Năng cũng bị nhiễm nấm mốc, và chỉ có thể đưa trở lại chân thể sau khi xử lý. Bằng cách này, Chân Thân Ngàn Năm đã được thu thập lại sau thảm họa  và trở thành những gì chúng ta thấy trong tự viện ngày nay.

Trong một số pháp môn của Phật giáo, những người có nhục thân bất hoại chính là đã tu thành một “xá lợi toàn thân” và nhục thân của họ cũng được thế nhân tôn thờ, phản ánh cảnh giới cao thâm mà người tu hành đạt tới, tương đương với “công thành viên mãn”.

Vào thời kỳ đầu Phật giáo mới sản sinh, hầu hết các tăng lữ đều sử dụng phương thức hỏa táng, và nhục thân sau khi thiêu đã để lại nhiều xá lợi tử. Từ thời nhà Hán, Phật giáo đã dần dần truyền nhập vào Trung thổ, và kết hợp với phong tục của Trung Hoa – các tăng nhân sau khi viên tịch dùng phương thức thổ táng. Người ta sau đó mới dần khám phá ra hiện tượng thần kỳ là nhục thân bất hoại của người tu hành. Vì vậy, những cao tăng đắc đạo, sau khi đã tu thành viên mãn, phải chăng đã vì nhân loại mà triển hiện những thần tích này? Nhục thân bất hoại là kỳ tích còn lưu lại trên nhân thế, khiến ngay cả những người không tin Thần, Phật, đối diện với chân thể hữu hình, chạm tới được này cũng không khỏi chấn động và kinh ngạc trước sự diệu kỳ của vũ trụ và sinh mệnh.

Trải qua hàng nghìn năm, chân thân của Huệ Năng đã phải hứng chịu đủ loại kiếp nạn, so với thuở sơ khai đã hoàn toàn khác. Tuy nhiên, ngay cả khi chân thân tôn kính này bị hư tổn, vẫn ngự trong Phật điện, ấn chứng cho Phật pháp và cổ vũ tín chúng.

Trong “Đàn Kinh” có nói, Thiền Tông chỉ truyền đến Lục Tổ. Ngày nay chúng ta đang sống trong thời kỳ mà Phật giáo gọi là “thời kỳ mạt pháp”, tương truyền, vào thời kỳ mạt pháp này sẽ có đức Phật giáng thế ban truyền chính Pháp, phổ độ chúng sinh. Huệ Năng không nói cho hậu thế biết lý do vì sao ông lưu lại chân thể bất hoại ngàn năm tuổi này, nhưng ông đã sử dụng phương thức lặng lẽ này để dẫn đạo chúng sinh: Nhân sinh là cõi tạm, tìm được và đồng hóa với chính Pháp đại đạo, mới là thoát ly biển khổ, hồi quy sinh mệnh trở về Thiên Quốc.

Vài điều đàm luận

Phật giáo từng triển hiện không ít Thần tích, bên cạnh những thần tích được ghi chép lại, còn có lưu lại những di vật như xá lợi tử, chân thân bất hoại của cao tăng đắc đạo, chứng minh Phật Pháp chân thực tồn tại. Nhưng chúng ta tự hỏi, vì sao nhiều tăng nhân đi theo con đường tu luyện của Đức Phật Thích Ca lại không thể tu đắc chính quả, đặc biệt không ai có thể chứng đắc quả vị Như Lai của Phật Thích Ca Mâu Ni? Phải chăng có uẩn hàm gì ở đây?

Hãy trở về hoàn cảnh lịch sử của nhân loại khi Đức Phật Thích Ca truyền Pháp 2500 năm trước đây. Khi đó nhân loại mới thoát thai từ xã hội nguyên thủy, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, chủ yếu sinh sống bằng săn bắt hái lượm, nội hàm văn hóa nghèo nàn. Giảng Pháp cho những đệ tử mà nội hàm văn hóa non nớt như vậy, đức Phật khó có thể giảng thấu những pháp lý cao tầng mà Ngài chứng ngộ trong quá trình liên tục đề cao tầng. Hơn nữa, thời kỳ đó Thích Ca chỉ giảng thoại, 500 năm sau các đệ tử của Ngài mới ghi chép lại dựa trên hồi ức, nên có rất nhiều điều đã bị thất truyền. Sau đó, lại có nhiều tăng nhân dựa trên thể ngộ bản thân mà diễn dịch Pháp của Thích Ca, nhưng tầng thứ của họ đều không đạt được đến tầng của Thích Ca, đó chính là loạn Pháp. Đó cũng là nguyên nhân vì sao Phật giáo của Thích Ca Mâu Ni bị thất truyền ở Ấn Độ, chính nơi Thích giáo phát tích. (Phật giáo hiện nay ở Ấn Độ là sau này được truyền ngược trở lại mà thôi)

Khi Phật giáo của Đức Thích Ca được truyền nhập vào Trung Quốc, nơi đây đã thấm đẫm nội hàm văn hóa của Đạo giáo, đặc biệt là Nho giáo. Vì vậy, Phật giáo lại một lần nữa bị bản địa hóa, trộn lẫn với những lý niệm của Nho giáo và Đạo giáo. Tu luyện xưa nay đều giảng “Bất nhị pháp môn”, không thể trộn lẫn những thứ khác vào mà loạn tu, nhưng trong số những người tiên phong hoằng dương Phật pháp tại phương Đông, rất nhiều là các bậc vương, đế và quan lại, nho sĩ, họ đều vô tình mà mang theo những lý niệm ngoại đạo vào chùa, từ đó khiến cho Phật giáo bị tạp lẫn, không còn là Phật giáo nguyên gốc mà Phật Thích Ca đã truyền. 

Hoàn cảnh nhân loại ngày nay cũng là một chướng ngại khó lòng vượt qua để Phật giáo có thể phổ độ. Năm đó xuất gia, Phật Thích Ca Mâu Ni đã từ bỏ cả vương quyền và gia quyến, khổ tu trong rừng rậm tách ly xa khỏi nơi con người quần tụ sinh sống. Sau khi dưới cội bồ đề khai công khai ngộ, trong 49 năm truyền Pháp, Ngài đã dẫn dắt các đệ tử của mình đi xin ăn, đi hóa duyên. Người tu luyện theo Pháp này buộc phải xuất gia, cách ly hoàn cảnh xã hội, từ đó mà dần dần đoạn tuyệt nhân tâm và dục vọng. Thế nhân nặng gánh trách nhiệm liệu mấy ai có thể làm được điều này? Hơn nữa, nếu người tu đông, chùa chiền không đủ chỗ chứa; người tu không tham gia sản xuất thì không có nguồn lực để duy trì. Nhưng nếu đã xuất gia mà vẫn phải kiếm tiền, thì không dễ đoạn tuyệt tâm danh lợi. Dẫu có đoạn tuyệt hết thảy, giữ mình trong hoàn cảnh hoàn toàn tách biệt với thế nhân, nhưng không còn ma nạn, khó có thể tu sạch nhân tâm. Ví dụ, thầy trò Đường Tăng trong Tây Du Ký phải vượt qua đủ chín chín tám mốt ma nạn mới đắc đạo.

Dù khó độ nhân trong hoàn cảnh phức tạp hiện tại, nhưng công lao của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đối với nhân loại là không thể phủ nhận, gieo mầm tín ngưỡng Phật Đạo Thần, giúp cho nhân loại duy trì đạo đức và đặt định cho nhân loại một nền văn hóa truyền thống với những nội hàm thâm khắc.

Nhiều người đã lầm khi cho rằng, Phật Pháp duy nhất chỉ có Thích giáo. Thực tế, Phật gia hay Đạo gia đều có vô số pháp môn – ngoài thế giới Ta Bà của Phật Thích Ca, chúng ta cũng nghe về Thế giới Lưu Ly của Dược Sư Phật, thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà… Liệu còn có pháp môn Phật gia nào tại nhân gian phổ độ chúng sinh, có thể giúp con người tu luyện tại gia, tu luyện ngay trong chính hoàn cảnh cuộc sống và nghề nghiệp của mình?

Câu trả lời là có. Từ năm 1992, Đại sư Lý Hồng Chí đã lần đầu đưa môn tu luyện Phật gia thượng thừa mang tên Pháp Luân Đại Pháp (hay còn gọi là Pháp Luân Công) hồng truyền nơi nhân gian. Người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp lấy nguyên lý của vũ trụ: Chân – Thiện – Nhẫn làm chỉ đạo để không ngừng nâng cao đạo đức, kết hợp với các bài khí công, thiền định giúp thân thể khoẻ mạnh. Chỉ trong vòng vài năm, từ năm 1992 đến năm 1999, số lượng người theo học Pháp Luân Đại Pháp tại Trung Quốc đã lên tới cả trăm triệu người.

Nhưng từ năm 1999, Giang Trạch Dân, tổng bí thư ĐCSTQ đương thời, đã vì ghen ghét đố kị hoang đường mà phát động một cuộc bức hại tàn khốc đối với những người tu luyện Đại Pháp; Song song với đó, ông ta đã tổng chỉ huy một chiến dịch tuyên truyền phô thiên cái địa trên toàn thế giới nhằm vu khống Pháp Luân Công, đặt mục tiêu tiêu diệt Pháp Luân Công trong vòng 3 tháng. Không chỉ bức hại những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp tại Trung Quốc, mà từ khi soán đoạt chính quyền từ tay Quốc dân đảng từ năm 1949 cho đến nay, ĐCSTQ đã từng bước từng bước không ngừng hủy hoại hoàn toàn Phật giáo tại Trung Quốc, lúc đầu là đập phá di tích di vật, bức hại người chân tu, hủy hoại kinh sách, sau đó là bổ nhiệm thành viên vào nắm giữ những vị trí then chốt của Phật giáo, nhồi nhét vào tăng ni những tà thuyết của ĐCSTQ… những gì còn lưu lại của Phật giáo tại Trung Quốc cơ bản chỉ là cái vỏ bề ngoài mà thôi. Bản chất tà ác thiên địa bất dung của ĐCSTQ và mục tiêu tối chung của nó chính là nhổ tận gốc tín ngưỡng vào Thần của nhân loại.

Xem thêm:

Tuy nhiên, sức mạnh của Phật Pháp chân chính không thể bị kẻ tiểu nhân và tà đảng kia hãm hại. Pháp Luân Đại Pháp đã vượt qua mọi khó khăn, không hề dựa vào bất kỳ thế lực nào, chỉ là người truyền người, tâm truyền tâm mà được hồng dương khắp nhân gian. Sau hơn 20 năm liên tục bị bức hại, số người học và thực hành Pháp Luân Đại Pháp đang ngày càng gia tăng trên khắp các châu lục toàn thế giới. Và nếu các bạn hỏi các học viên Pháp Luân Công đang chân chính thực hành Phật pháp Chân – Thiện – Nhẫn, tôi tin rằng ai cũng có thể chia sẻ với bạn về vô số những Thần tích vi diệu mà bản thân họ cảm thụ được. Ngày nay, khi thiên tai và dịch bệnh tràn lan nơi nhân thế, nhân loại không thể không đặt câu hỏi, vì sao Thần không quản? Bạn hãy nghĩ xem, chẳng phải Thần Phật đang rộng mở con đường trở về Phật quốc, chờ đợi người hữu duyên? 

Bài viết chỉ phản ánh quan điểm cá nhân của tác giả.